Phân loại và phương pháp điều trị gãy cổ xương chày: Gãy không liền, hoại tử và biến dạng

Phân loại và chiến lược điều trị biến chứng sau gãy cổ xương chày

Việc điều trị gãy cổ xương chày (talus) đòi hỏi sự chú trọng đặc biệt vào việc xử lý chính xác chấn thương ban đầu, đồng thời phải sớm nhận diện và quản lý các biến chứng như hoại tử tủy xương có thể xảy ra sau đó [1]. Dự đoán được rằng với các gãy cổ xương chày, một tỷ lệ nhỏ các gãy không dịch vị và một tỷ lệ lớn các gãy có dịch vị hoàn toàn của thân xương sẽ bị biến chứng bởi hoại tử tủy xương [1].

Chiến lược điều trị dựa trên phân loại tổn thương

Bảng phân loại và thuật toán điều trị cho các trường hợp lệch vị tủy xương (Talar Malunions) cung cấp một lộ trình rõ ràng tùy thuộc vào mức độ tổn thương của khớp [1]. Các lựa chọn điều trị bao gồm:

  • Biến dạng khớp với dịch vị: Phẫu thuật cắt xương, tái tạo thứ cấp và cố định nội khoa để bảo tồn khớp.
  • Gãy không liền kèm dịch vị: Phẫu thuật nối khớp (fusion) của các khớp bị ảnh hưởng.
  • Hoại tử tủy xương dạng I hoặc II (phần thiếu): Cắt thần kinh, ghép xương có mao mạch và phẫu thuật nối khớp.
  • Hoại tử tủy xương dạng I hoặc II (hoàn toàn): Phẫu thuật cắt bỏ mô hoại tử, ghép xương và phẫu thuật nối khớp.
  • Hoại tử tủy xương septic: Cắt bỏ mô hoại tử bán kính, ghép xương và phẫu thuật nối khớp [1].

Chẩn đoán sớm hoại tử tủy xương

Việc phát hiện sớm hoại tử là quan trọng. Khoảng 6 đến 8 tuần sau chấn thương, một đường mỏng của teo dưới sụn (dấu hiệu Hawkins) được nhìn thấy trên phim X-quang trước sau cho thấy sự có mặt của tưới máu và loại trừ chẩn đoán hoại tử tủy xương [1]. Ngược lại, nếu dấu hiệu này không hiện diện, hoại tử tủy xương có thể hoặc không xảy ra. Trên phim X-quang, khi có hoại tử tủy xương, xương trở nên đặc và xơ cứng, mặc dù điều này có thể không rõ ràng trong vài tháng đầu tiên.

Chụp cộng hưởng từ (MRI) có thể được sử dụng để đánh giá thêm về hoại tử tủy xương nhưng không nên thực hiện 2 hoặc 3 tháng sau phẫu thuật để cho phép phù nề sau phẫu thuật giảm bớt [1].

Tài liệu tham khảo

  • [1] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 5182

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Related Post