Mechanism of Injury: Gây chấn thương do lực xoắn và nén
Gãy trật khớp cổ bàn chân, hay còn gọi là tổn thương Lisfranc, thường xảy ra ở người lớn hơn trẻ em. Trong khi các trường hợp bẩm sinh rất hiếm gặp, các chấn thương do tai nạn chiếm đa số. Cơ chế gây chấn thương phổ biến nhất liên quan đến lực xoắn kết hợp với sự uốn cong mạnh của bàn chân xuống (plantarflexion) [5].
Biểu đồ cơ chế tổn thương cho thấy ba dạng chính: đầu tiên là khi người nhảy xuống đất bằng ngón chân cái, tạo ra lực nén từ gót sang mũi chân làm khớp TMT trật dịch và thường kèm gãy cổ xương metatarsal thứ hai [1]. Thứ hai là chấn thương trực tiếp do gót va vào mũi chân (heel-to-toe compression), ví dụ như khi phanh xe đạp đột ngột [1]. Cuối cùng là cơ chế ngã sau lưng với bàn chân bị cố định, nơi gót đóng vai trò đòn bẩy gây tổn thương cho phần chân trước [5].
Trong một nghiên cứu gần đây, 61% các trường hợp chấn thương này liên quan đến thể thao [5]. Các chấn thương đặc biệt cũng đã được ghi nhận trong tai nạn xe mini-scooter khi người lái đặt bàn chân xuống để giảm tốc độ, gây ra lực kéo dãn trục và xoay [7].
Chẩn đoán hình ảnh và dấu hiệu lâm sàng
Bản chụp X-quang AP của bàn chân có thể gợi ý tổn thương dây chằng Lisfranc. Các động mạch như cung động mạch thực bì (arterial arch) và động mạch metatarsal thường bị tổn thương kèm theo gãy xương [4]. Để đánh giá chính xác, ba tư thế ảnh chụp chịu trọng lượng (AP, lateral, oblique) là bắt buộc để kiểm tra sự ngắn lại, lệch hướng và dịch chuyển của khớp [4].
Bản chụp CT được khuyến nghị khi có các vết nứt liên quan đến khớp nội bộ hoặc khi cần đánh giá chi tiết hơn về sự mất đồng bộ của khớp [4]. Trong phân loại Nunley và Vertullo, tổn thương giai đoạn I là chấn thương dây chằng không dịch chuyển nhưng có tăng hấp thu trên scintigraphy; giai đoạn II có khoảng cách 1–5 mm giữa hai metatarsal đầu tiên; còn giai đoạn III có dịch chuyển lớn hơn 5 mm và mất độ cao của cột dọc bên trong [8].
Phương pháp điều trị: Phẫu thuật hay bảo tồn?
Điều trị không phẫu thuật chỉ được xem xét khi tổn thương là dây chằng thuần túy, không dịch chuyển (<2 mm), và không có bất kỳ tổn thương liên quan nào đến cột dọc bên trong hoặc mô mềm [2]. Nếu không có mất ổn định, bệnh nhân có thể được cố định bằng bột gạc dưới đầu gối với hạn chế trọng lượng cơ thể (NWB) [9].
Trái lại, phẫu thuật là lựa chọn cho các trường hợp mất ổn định, trật khớp hoặc gãy xương kéo dài. Một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên cấp I so sánh giữa phục hồi mở và nội tiết tố (PA) với phẫu thuật cắt bỏ khớp sơ khởi cho thấy PA mang lại kết quả chức năng tốt hơn với tỷ lệ phẫu thuật tái can thiệp thấp hơn [10].
Kỹ thuật cố định trong phẫu thuật có thể sử dụng vít để cố định cột bên trong hoặc dây Kirschner (K-wire) cho cột bên ngoài, tùy thuộc vào mô hình sinh học và vị trí tổn thương cụ thể [3]. Việc duy trì sự đối xứng giải phẫu của khớp và bảo vệ cột dọc bên trong là yếu tố quyết định chính đối với kết quả chức năng cuối cùng, bất kể cơ chế gây chấn thương hay độ nặng của tổn thương [6].
Bài viết này tập trung vào các nguyên tắc điều trị dựa trên tài liệu chuyên ngành về gãy trật khớp cổ bàn chân. Các thông tin được tổng hợp từ các nguồn y khoa uy tín để cung cấp cái nhìn tổng quan về cơ chế, chẩn đoán và phương pháp can thiệp.
Tài liệu tham khảo
- [1] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 1921
- [2] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3501
- [3] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3559
- [4] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3518
- [5] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 1921
- [6] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3511
- [7] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 1922
- [8] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3501
- [9] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3501
- [10] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 3559
