Gãy thân xương cánh tay kèm liệt thần kinh quay: chẩn đoán và hướng xử trí

Gãy thân xương cánh tay kèm liệt thần kinh quay là tình huống chấn thương cần được đánh giá đồng thời cả tình trạng xương và chức năng thần kinh. Người bệnh có thể không duỗi được cổ tay, các ngón tay và giảm cảm giác ở vùng mu tay phía quay. Việc có liệt thần kinh quay không mặc nhiên đồng nghĩa phải mổ thám sát thần kinh ngay; lựa chọn phụ thuộc vào kiểu gãy, tổn thương phần mềm, mạch máu và diễn tiến hồi phục. [3]

Liệt thần kinh quay biểu hiện như thế nào?

Thần kinh quay thường bị tổn thương trong gãy thân xương cánh tay. Ở gãy kín, tổn thương thần kinh quay được ghi nhận với tỷ lệ khoảng 10–12% trong các tài liệu được trích dẫn. Biểu hiện lâm sàng điển hình gồm:

  • Không hoặc khó duỗi cổ tay.
  • Không duỗi được các ngón tay.
  • Tê hoặc giảm cảm giác ở mặt mu phía quay của bàn tay và mặt mu của khoảng ba ngón rưỡi phía quay.

Khám thần kinh cần được ghi nhận trước và sau nắn chỉnh, bất động hoặc phẫu thuật để phân biệt liệt có sẵn từ lúc chấn thương với liệt xuất hiện sau can thiệp. [3]

Gãy thân xương cánh tay kèm liệt thần kinh quay có phải mổ ngay?

Đây là vấn đề còn có những quan điểm khác nhau. Tổng quan được trích dẫn trong tài liệu cho thấy theo dõi ban đầu thường được ưu tiên đối với liệt thần kinh quay xuất hiện cùng gãy thân xương cánh tay cấp tính, vì nhiều trường hợp có thể tự hồi phục dù điều trị gãy theo phương pháp không phẫu thuật. Một phân tích tổng hợp cũng không cho thấy phẫu thuật ban đầu giúp cải thiện hồi phục thần kinh tốt hơn so với điều trị không phẫu thuật; điều trị không phẫu thuật còn liên quan đến ít than phiền hơn trong nhóm được nghiên cứu. [3][5]

Tuy nhiên, quyết định điều trị xương vẫn cần cá thể hóa. Một số trường hợp có thể được cố định xương sớm để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hồi phục thần kinh, ngay cả khi chưa thám sát thần kinh, miễn là không có bằng chứng thần kinh bị kẹt trong ổ gãy. [1][5]

Khi nào thường cân nhắc thám sát thần kinh sớm?

Các chỉ định thường được chấp nhận gồm tổn thương mạch máu đi kèm, vết thương do đạn, gãy xương hở, tổn thương phần mềm nghiêm trọng hoặc vết thương sắc nhọn, xuyên thấu. Với gãy xương hở cần rửa, cắt lọc và cố định, thần kinh quay nên được thám sát trong cùng thời điểm xử trí vết thương. [1][4]

Một kiểu gãy xoắn di lệch ở đoạn thấp thân xương cánh tay có thể làm tăng nguy cơ thần kinh bị kẹt giữa các mảnh gãy. Hình thái này đặc biệt được lưu ý vì thần kinh ít di động khi đi qua vách liên cơ bên; việc nắn kín có thể làm thần kinh bị mắc kẹt giữa hai đầu xương. [2][7] Siêu âm độ phân giải cao kết hợp với khảo sát điện sinh lý có thể hỗ trợ phát hiện thần kinh bị kẹt hoặc đứt trong những trường hợp gãy kín. [4]

Theo dõi hồi phục thần kinh quay

Trong thời gian chờ thần kinh hồi phục, cổ tay và các ngón tay có thể được nâng đỡ bằng nẹp nhằm hạn chế co rút. Tài liệu Campbell đề cập rằng dấu hiệu hồi phục lâm sàng, chẳng hạn hoạt hóa cơ cánh tay quay và cơ duỗi cổ tay quay dài, có thể xuất hiện khoảng 3–4 tháng sau tổn thương; mốc này không thay thế cho đánh giá trực tiếp của bác sĩ. [6]

Ở trường hợp liệt hoàn toàn hoặc dày đặc, thăm dò điện sinh lý có thể được cân nhắc vào khoảng 6 và 12 tuần. Nếu sau 3–4 tháng chưa có dấu hiệu hồi phục lâm sàng và kết quả điện sinh lý vẫn cho thấy thiếu hồi phục, bác sĩ có thể xem xét thám sát thần kinh thứ phát. Thời điểm tối ưu được tài liệu nêu khoảng 4–5 tháng trong bối cảnh phù hợp, nhưng cần dựa trên mức độ tổn thương và toàn trạng người bệnh. [6]

Người bệnh nên làm gì?

  • Đến cơ sở chấn thương chỉnh hình để chụp hình đánh giá ổ gãy và khám thần kinh, mạch máu.
  • Thông báo rõ khả năng duỗi cổ tay, duỗi ngón và vùng tê trước khi nắn chỉnh hoặc phẫu thuật.
  • Không tự nắn bóp hoặc cố gắng duỗi mạnh cổ tay, các ngón tay.
  • Tuân thủ lịch khám lại để ghi nhận tiến triển vận động và cân nhắc kiểm tra điện sinh lý khi cần.

Kết luận

Phần lớn trường hợp liệt thần kinh quay kèm gãy thân xương cánh tay cấp tính có thể được theo dõi ban đầu nếu không có dấu hiệu thần kinh bị kẹt, đứt, tổn thương mạch máu, gãy hở hoặc tổn thương phần mềm nặng. Thám sát sớm được cân nhắc trong các tình huống nguy cơ cao, còn theo dõi hồi phục cần kết hợp khám lâm sàng và thăm dò điện sinh lý khi phù hợp. [1][3][4][5][6]

Tài liệu tham khảo

  • [1] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 1440
  • [2] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 1440
  • [3] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 1439
  • [4] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3604
  • [5] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 1440
  • [6] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3604
  • [7] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3604

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Related Post