Tổn thương thần kinh quay có thể làm người bệnh khó hoặc không thể duỗi cổ tay, tạo nên hình ảnh thường gọi là bàn tay rủ. Tuy nhiên, biểu hiện không giống nhau ở mọi trường hợp: mức độ yếu cổ tay, ngón tay và ngón cái phụ thuộc vào vị trí dây thần kinh bị tổn thương. Việc nhận biết đúng các dấu hiệu giúp định hướng thăm khám, nhưng không thay thế đánh giá trực tiếp của bác sĩ.
Bàn tay rủ trong tổn thương thần kinh quay là gì?
Ở tổn thương thần kinh quay mức cao, người bệnh có thể mất khả năng duỗi cổ tay, duỗi và dạng ngón cái, đồng thời không duỗi được các ngón tại khớp bàn-ngón. Đây là kiểu liệt vận động tạo nên tư thế cổ tay rủ điển hình.[6]
Duỗi cổ tay còn có vai trò tạo độ căng phù hợp cho các gân gấp. Vì vậy, khi cổ tay không giữ được ở tư thế duỗi, khả năng cầm nắm có thể suy giảm đáng kể, không chỉ vì cổ tay rủ mà còn vì bàn tay khó tạo tư thế thuận lợi để nắm vật.[6]
Chức năng duỗi khuỷu không nhất thiết mất trong mọi trường hợp. Với tổn thương ở thân xương cánh tay hoặc xa hơn, cơ tam đầu thường không bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên người bệnh vẫn có thể duỗi khuỷu.[3][6]
Dấu hiệu vận động cần chú ý
Các biểu hiện vận động gợi ý tổn thương thần kinh quay gồm:
- Không hoặc khó duỗi cổ tay: cổ tay có xu hướng rủ xuống khi người bệnh cố đưa bàn tay lên.
- Không duỗi được ngón tay tại khớp bàn-ngón: làm bàn tay vụng về và khó chuẩn bị tư thế cầm nắm.[6]
- Yếu duỗi và dạng ngón cái: ngón cái khó đưa ra khỏi lòng bàn tay hoặc duỗi thẳng.[6]
- Giảm khả năng cầm nắm: do mất sự phối hợp giữa tư thế cổ tay và hoạt động của các gân gấp.[6]
Bác sĩ có thể kiểm tra lần lượt những cơ do thần kinh quay chi phối, bao gồm cơ tam đầu cánh tay, cơ cánh tay quay, các cơ duỗi cổ tay, cơ duỗi chung các ngón và các cơ duỗi hoặc dạng ngón cái. Một số gân và bụng cơ có thể được sờ trong lúc người bệnh thực hiện động tác để đánh giá chính xác hơn.[8]
Tổn thương mức thấp có luôn gây bàn tay rủ không?
Không phải mọi tổn thương thần kinh quay đều gây mất duỗi cổ tay hoàn toàn. Khi tổn thương nằm ở phần gần của mặt sau ngoài cẳng tay và chủ yếu ảnh hưởng đến nhánh gian cốt sau, khả năng duỗi cổ tay có thể được bảo tồn. Tuy nhiên, cổ tay thường lệch về phía quay khi duỗi vì một cơ duỗi cổ tay phía quay vẫn còn hoạt động.[1]
Trong kiểu tổn thương mức thấp này, người bệnh vẫn có thể mất duỗi các ngón tại khớp bàn-ngón, mất duỗi và dạng ngón cái. Hậu quả là bàn tay trở nên vụng về, khó tạo tư thế nắm dù không có hình ảnh cổ tay rủ rõ rệt.[1][2]
Nếu tổn thương xảy ra gần vị trí thần kinh chia thành nhánh sâu và nhánh nông, cơ cánh tay quay và cơ duỗi cổ tay quay dài có thể tiếp tục hoạt động; động tác ngửa cẳng tay và duỗi cổ tay vì thế vẫn còn.[3] Điều này cho thấy chỉ quan sát cổ tay là chưa đủ để xác định phạm vi tổn thương.
Rối loạn cảm giác đi kèm
Ngoài yếu vận động, người bệnh có thể bị tê hoặc giảm cảm giác ở vùng mu ngoài bàn tay, bao gồm khu vực phía quay của mu bàn tay và vùng liên quan đến ba ngón đầu.[4] Khi khám, vùng kẽ ngón thứ nhất ở mu tay thường được dùng để đánh giá cảm giác sờ nhẹ.[3]
Đo phân biệt hai điểm tại vùng này không có nhiều giá trị vì mật độ thụ thể cảm giác thấp hơn đầu ngón tay. Do đó, đánh giá cảm giác thô với chạm nhẹ phù hợp hơn trong thăm khám vùng chi phối đặc trưng của thần kinh quay.[3]
Liên quan giữa tổn thương thần kinh quay và gãy xương cánh tay
Thần kinh quay dễ bị ảnh hưởng tại thân xương cánh tay và vùng gần của mặt sau ngoài cẳng tay.[6] Trong gãy thân xương cánh tay, biểu hiện điển hình có thể gồm mất duỗi cổ tay, ngón tay và ngón cái, kèm giảm cảm giác ở mu ngoài bàn tay.[5]
Một số trường hợp dây thần kinh vẫn còn liên tục và có khả năng phục hồi tự nhiên. Tuy nhiên, thần kinh cũng có thể bị kẹt trong ổ gãy, chịu chèn ép kéo dài hoặc xuất hiện liệt muộn do vị trí của các đầu xương.[5] Vì vậy, diễn biến triệu chứng và dấu Tinel tiến dần dọc đường đi của dây thần kinh cần được theo dõi khi tái khám.[5]
Hướng xử trí phụ thuộc hoàn cảnh tổn thương
Với nhiều trường hợp liệt thần kinh quay đi kèm gãy kín xương cánh tay, theo dõi ban đầu có thể được lựa chọn vì chức năng có khả năng trở lại trong khoảng 3–6 tháng.[1] Ngược lại, gãy xương hở hoặc vết rách kèm thiếu hụt chức năng thần kinh là những hoàn cảnh có thể cần thám sát dây thần kinh trong quá trình xử trí tổn thương.[7]
Nếu liệt xuất hiện sau nắn chỉnh hoặc phẫu thuật, điều trị theo dõi vẫn thường được ưu tiên khi không có sai sót kỹ thuật rõ ràng. Trường hợp không phục hồi sau 4–6 tháng có thể được cân nhắc thám sát, sửa chữa thần kinh hoặc chuyển gân.[9] Các mốc này phải được áp dụng theo từng bệnh nhân, không nên dùng để tự trì hoãn khám.
Kết luận
Bàn tay rủ là dấu hiệu quan trọng của tổn thương thần kinh quay mức cao, thường đi kèm mất duỗi ngón tay và ngón cái. Tuy vậy, tổn thương mức thấp có thể vẫn giữ được duỗi cổ tay nhưng làm mất vận động các ngón, khiến bàn tay vụng về và cầm nắm khó khăn. Khi triệu chứng xuất hiện sau chấn thương, đặc biệt kèm sưng, bầm, vết thương hoặc biến dạng cánh tay, người bệnh cần được đánh giá đầy đủ về vận động, cảm giác và tình trạng xương khớp.[4]
Tài liệu tham khảo
- [1] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4329
- [2] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4329
- [3] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4522
- [4] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 1445
- [5] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 789
- [6] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4329
- [7] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4329
- [8] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4522
- [9] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 1491
