Hội chứng chèn ép trụ cổ tay (ulnar impaction syndrome, còn gọi là ulnocarpal impaction hoặc ulnar abutment) là một nguyên nhân gây đau ở phía ngón út của cổ tay. Triệu chứng thường rõ hơn khi cổ tay nghiêng về phía trụ, xoay cẳng tay hoặc chịu lực. Cơ chế liên quan đến sự tiếp xúc và tải trọng bất thường giữa đầu dưới xương trụ với các cấu trúc vùng cổ tay, đặc biệt là phức hợp sụn sợi tam giác (TFCC), xương nguyệt và xương tháp.[1][4]
Hội chứng chèn ép trụ cổ tay là gì?
Trong điều kiện có biến thể trụ dương, đầu dưới xương trụ tương đối dài hơn so với đầu dưới xương quay. Tình trạng này có thể làm tăng tải lên khớp trụ–cổ tay và dần gây biến đổi thoái hóa ở TFCC, chỏm xương trụ, bề mặt khớp của xương nguyệt, xương tháp và dây chằng nguyệt–tháp.[2][8]
Tuy nhiên, biến thể trụ dương không phải lúc nào cũng là bệnh. Đây có thể là một đặc điểm bình thường, một bất thường phát triển hoặc hậu quả mắc phải sau chấn thương. Những nguyên nhân mắc phải được ghi nhận gồm ngắn xương quay sau gãy đầu dưới xương quay, tổn thương kiểu Essex-Lopresti và ngừng tăng trưởng đầu dưới xương quay do chấn thương.[2][4]
Ở trẻ em và thanh thiếu niên còn tăng trưởng, ngừng phát triển sụn tăng trưởng đầu dưới xương quay có thể khiến xương trụ tiếp tục dài lên tương đối. Sự mất cân bằng này có thể dẫn đến chèn ép trụ–cổ tay, tổn thương TFCC, biến dạng cẳng tay và hạn chế vận động.[10][11]
Dấu hiệu thường gặp
Biểu hiện điển hình là đau phía trụ của cổ tay, tức phía gần ngón út. Đau có thể tăng khi nghiêng cổ tay về phía ngón út, sấp hoặc ngửa cẳng tay, duỗi cổ tay hay thực hiện động tác chịu lực và nén dọc trục.[1][4][5]
- Đau khi vận động hoặc khi cổ tay phải chịu tải.
- Sưng và giảm tầm vận động trong một số trường hợp.[4][5]
- Cảm giác lạo xạo, nghiến hoặc tiếng “click” khi cử động nếu có tổn thương liên quan ở TFCC hay khớp trụ–cổ tay.[3][6]
- Đau tái hiện khi bác sĩ nghiêng cổ tay thụ động về phía trụ hoặc thực hiện nghiệm pháp vừa duỗi, nghiêng trụ vừa nén dọc trục.[5][6]
Các môn thể thao lặp lại động tác chịu lực qua cổ tay, như thể dục dụng cụ, khúc côn cầu trên sân hoặc lacrosse, có thể làm triệu chứng xuất hiện rõ hơn.[1] Nghiệm pháp chống tay nâng người khỏi ghế cũng có thể tái hiện đau, nhưng không đặc hiệu vì kết quả dương tính còn gặp trong mất vững khớp quay–trụ dưới.[6]
Chẩn đoán đau cổ tay phía ngón út
Việc đánh giá thường kết hợp vị trí đau, động tác làm tăng triệu chứng, khám vận động và các nghiệm pháp tạo tải lên khớp trụ–cổ tay. Đau khi nghiêng trụ kèm sấp cẳng tay hoặc để cẳng tay ở tư thế trung tính gợi ý chèn ép trụ–cổ tay. Trong khi đó, đau khi nghiêng trụ và ngửa cẳng tay có thể liên quan nhiều hơn đến chèn ép mỏm trâm trụ.[2]
X-quang cổ tay có thể cho thấy biến thể trụ dương, ngắn hoặc ngừng phát triển xương quay, xương trụ phát triển dài tương đối và dấu hiệu chèn ép đầu dưới xương trụ. Một số trường hợp còn có biến đổi dạng nang ở xương nguyệt hoặc chỏm xương trụ.[1][9]
Phim chụp thường quy có thể chưa phản ánh hết thay đổi động khi cổ tay chịu lực. Tư thế nắm chặt bàn tay trong sấp cẳng tay có thể làm biến thể trụ dương biểu hiện rõ hơn ở một số người.[9] MRI có thể giúp nhận diện tổn thương sụn ở xương nguyệt hoặc xương tháp, rách TFCC và đánh giá phạm vi ngừng tăng trưởng đầu dưới xương quay.[1]
Không nên kết luận chỉ dựa trên một nghiệm pháp, vì viêm khớp quay–trụ dưới và bệnh lý khớp đậu–tháp có thể đồng thời tồn tại và tạo triệu chứng tương tự.[6][9]
Hướng điều trị hội chứng chèn ép trụ cổ tay
Điều trị không phẫu thuật
Các biện pháp ban đầu được nêu trong tài liệu gồm điều chỉnh hoạt động, dùng nẹp, thuốc đường uống và tiêm tại chỗ. Phẫu thuật thường chỉ được cân nhắc khi triệu chứng không cải thiện với những phương pháp này.[5][9] Lựa chọn cụ thể cần dựa trên nguyên nhân giải phẫu, mức độ đau, hạn chế chức năng và tổn thương kèm theo.
Khi nào có thể cân nhắc phẫu thuật?
Mục tiêu của phẫu thuật là giảm tải vùng trụ–cổ tay và xử lý các cấu trúc bị tổn thương. Những kỹ thuật được mô tả gồm làm sạch khớp qua nội soi, xử lý TFCC, cắt mỏng đầu dưới xương trụ kiểu wafer hoặc cắt ngắn xương trụ.[2][5][9]
Nếu nguyên nhân là chèn ép mỏm trâm trụ, hướng xử lý có thể khác với chèn ép trụ–cổ tay. Trường hợp biến dạng xương quay rõ hoặc mất cân bằng chiều dài hai xương cẳng tay ở trẻ đang phát triển còn có thể cần chỉnh trục, kéo dài xương quay, cắt ngắn xương trụ hoặc can thiệp sụn tăng trưởng tùy tuổi và mức độ biến dạng.[1][7]
Lưu ý đối với trẻ từng gãy đầu dưới xương quay
Sau tổn thương sụn tăng trưởng đầu dưới xương quay, chèn ép trụ–cổ tay có thể hình thành do xương quay ngừng phát triển trong khi xương trụ tiếp tục dài ra. Tài liệu ghi nhận chụp X-quang theo dõi trong khoảng 6–12 tháng sau chấn thương có thể giúp phát hiện sớm tình trạng ngừng tăng trưởng.[10][11]
Kết luận
Đau phía ngón út tăng khi nghiêng cổ tay, xoay cẳng tay hoặc chống tay chịu lực có thể liên quan đến hội chứng chèn ép trụ cổ tay. Tuy vậy, triệu chứng này không đặc hiệu cho một bệnh duy nhất. Khám lâm sàng kết hợp X-quang và, khi cần, MRI giúp xác định biến thể trụ dương, tổn thương TFCC, thay đổi ở xương cổ tay hoặc biến dạng sau chấn thương.[1][6][9] Điều trị được cá thể hóa, bắt đầu bằng biện pháp không phẫu thuật và chỉ cân nhắc can thiệp khi triệu chứng kéo dài hoặc có bất thường cấu trúc cần điều chỉnh.[5][9]
Tài liệu tham khảo
- [1] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 478
- [2] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4236
- [3] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 472
- [4] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4226
- [5] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4226
- [6] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4224
- [7] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 478
- [8] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4236
- [9] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 4237
- [10] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 472
- [11] Rockwood and Green's Fractures in Children, 9th Edition, 2020, trang 473
