Yếu tố quyết định khả năng phục hồi vận động sau phẫu thuật
Sau các can thiệp phẫu thuật lớn như thay khớp gối hoặc xử lý gãy xương đùi, việc khôi phục lại phạm vi chuyển động (ROM) là một trong những mục tiêu hàng đầu. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân bị viêm khớp thoái hóa phát sinh sau chấn thương gãy xương thường là người trẻ tuổi và không phải là ứng viên lý tưởng cho phẫu thuật thay khớp gối. Trong những trường hợp này, các bác sĩ sẽ cân nhắc kỹ lưỡng giữa phương pháp chỉnh hình xương (osteotomy) để điều chỉnh lệch trục và phẫu thuật thay khớp toàn phần tùy theo mức độ tổn thương của các ngăn khớp [1].
Việc ra quyết định phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng bao gồm: tuổi tác, phạm vi chuyển động ban đầu, sự hiện diện hay vắng mặt của co gập gối (flexion contracture), và nguy cơ nhiễm trùng. Đặc biệt, bảo tồn hoặc khôi phục cơ chế kéo căng khuỷu tay (extensor mechanism) đóng vai trò then chốt trong việc đạt được gập gối chủ động [1][6].
Kỹ thuật phẫu thuật và cố định để tối ưu hóa vận động
Trong các trường hợp gãy xương đùi đoạn dưới, tiến bộ về sinh học và kỹ thuật cố định đã giúp kết quả điều trị đạt mức tốt hoặc xuất sắc ở 80% ca bệnh. Tuy nhiên, các vấn đề như mất mát xương, tổn thương cơ chế kéo căng khuỷu tay và cứng khớp sau phẫu thuật vẫn cần được nghiên cứu thêm để cải thiện phục hồi vận động [1].
Đối với kỹ thuật cố định bằng bảng (plate fixation), nếu ổn định đạt được thì không cần dùng nẹp hoặc khung gập. Việc bắt đầu các bài tập chuyển động sớm ngay lập tức là rất quan trọng nhằm tránh cứng khớp liên quan đến sẹo hóa cơ bắp. Về vấn đề mang nặng, nó thường được bắt đầu khi có dấu hiệu lành xương trên phim X-quang, có thể sớm sau 6 tuần nếu có callus hình thành [2].
Quy trình hai giai đoạn và kết hợp phẫu thuật
Đối với các trường hợp biến dạng khớp gối nghiêm trọng (góc >15°), việc thực hiện phẫu thuật thay khớp toàn phần (TKA) sau khi đã thực hiện chỉnh hình xương (osteotomy) có thể là lựa chọn. Phương pháp hai giai đoạn này cho phép duy trì mức độ khớp, dây chằng chéo sau (PCL) và chiều cao sụn bánh chè một cách tốt hơn [4].
Mặc dù phương pháp hai giai đoạn giảm thiểu rủi ro nhiễm trùng và xâm lấn so với phẫu thuật kết hợp, nhưng nó đòi hỏi hai lần gây mê và hai chu kỳ phục hồi. Do đó, việc kết hợp chỉnh hình xương và thay khớp trong cùng một ca phẫu thuật là một thủ thuật phức tạp nhằm tránh các nhược điểm này [9][10].
Chăm sóc hậu phẫu để đạt biên độ gập gối tối đa
Sau khi cố định nội tiết chắc chắn, chi dưới thường được hỗ trợ trong nẹp gập khuỷu cho đến khi vết thương lành. Nếu không, một cái cast dài chân với khớp gối ở tư thế mở rộng sẽ được đeo trong 4 tuần [8]. Việc bắt đầu các bài tập động tác chủ động và thụ động sớm giúp ngăn chặn sự hình thành sẹo cứng khớp.
Đối với phẫu thuật thay khớp vai thất bại hoặc các trường hợp phức tạp khác, mục tiêu phục hồi cũng bao gồm khôi phục chức năng và vận động. Bảo vệ sửa chữa cơ dưới cánh tay (subscapularis) là nguyên tắc governing của hầu hết các giao thức phục hồi [3].
Đánh giá kết quả bằng thang điểm chức năng
Kết quả phẫu thuật không chỉ dựa trên đo lường khách quan mà còn đánh giá cảm nhận của bệnh nhân. Các thang điểm thường bao gồm: sự thẳng hàng và mất ổn định (chiếm 50 điểm), phạm vi chuyển động được tính bằng 1 điểm cho mỗi 5 độ cung chuyển động tổng cộng, trừ đi điểm cho co gập gối và trễ mở rộng [5].
Phạm vi chuyển động thực tế của khớp cổ chân sau phẫu thuật thay khớp đã được ghi nhận tăng từ trung bình 18.5 độ lên 23.4 độ, tuy nhiên các đánh giá lâm sàng về phạm vi chuyển động thường khó tái tạo và có thể không chính xác trong việc đánh giá cải thiện thực sự [7].
Kết luận
Tóm lại, để đạt được biên độ gập gối tối đa sau phẫu thuật chỉnh hình hoặc thay khớp, cần kết hợp giữa lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp (chỉnh hình hay thay khớp), kỹ thuật cố định chắc chắn và quy trình chăm sóc hậu phẫu tập trung vào vận động sớm. Các yếu tố như bảo tồn cơ chế kéo căng khuỷu tay, kiểm soát nhiễm trùng và đánh giá đa chiều về chức năng sẽ quyết định thành công của quá trình phục hồi.
Tài liệu tham khảo
- [1] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 2914
- [2] Rockwood and Green's Fractures in Adults, 10th Edition, 2025, trang 2810
- [3] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 757
- [4] Osteotomies around the Knee, 1st Edition, 2008, trang 242
- [5] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 510
- [6] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 1133
- [7] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 645
- [8] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 1040
- [9] Osteotomies around the Knee, 1st Edition, 2008, trang 241
- [10] Osteotomies around the Knee, 1st Edition, 2008, trang 242
