Nội soi khớp gối cắt bỏ nang sụn chêm: quy trình và chỉ định

Nội soi khớp gối cắt bỏ nang sụn chêm thường được thực hiện nhằm xử lý nang cùng tổn thương rách sụn chêm liên quan. Tài liệu chuyên ngành cho thấy nang sụn chêm có mối liên hệ chặt chẽ với bệnh lý sụn chêm, đặc biệt là các đường rách ngang hoặc rách quai xô có thành phần ngang ở vùng ngoại vi [5]. Vì vậy, chỉ làm xẹp nang mà không đánh giá và xử lý đường thông với sụn chêm có thể không giải quyết được nguyên nhân tại chỗ.

Nang sụn chêm là gì?

Nang sụn chêm là tổn thương chứa chất dạng nhầy nằm trong hoặc quanh sụn chêm. Một số cơ chế được đề xuất gồm thoái hóa dạng nhầy, tổn thương sau chấn thương hoặc sự đi vào của tế bào hoạt dịch qua các vi rách của sụn chêm [5]. Trong các mẫu sụn chêm được phân tích ở tài liệu, nang có liên quan với bệnh lý sụn chêm, thường gặp nhất là rách ngang ở phần ngoại vi của một phần ba giữa sụn chêm ngoài [5].

Triệu chứng thường nổi bật là đau tăng khi vận động. Người bệnh có thể nhận thấy một khối hoặc vùng phồng dọc khe khớp, kích thước thay đổi theo mức độ hoạt động. Nếu nang đi kèm rách sụn chêm, các biểu hiện như kẹt khớp, lục cục, bật khớp hoặc cảm giác gối không vững có thể xuất hiện [3]. Nang lớn ở phía sau đôi khi bị nhầm với nang khoeo Baker [3].

Nội soi khớp gối cắt bỏ nang sụn chêm được chỉ định khi nào?

Điều trị nang sụn chêm thường cần phẫu thuật; các biện pháp bảo tồn như tiêm hoặc thuốc chống viêm hiếm khi đem lại hiệu quả lâu dài ngoài việc giảm triệu chứng tạm thời [3]. Phương án được tài liệu đề cập là cắt một phần sụn chêm qua nội soi kết hợp giải áp nang [1]. Quyết định cụ thể vẫn phụ thuộc vào vị trí, kích thước nang, kiểu rách và tình trạng sụn chêm còn lại.

MRI có vai trò quan trọng vì giúp xác định nang và các bất thường sụn chêm đi kèm rõ hơn [3]. Đây là cơ sở để bác sĩ đánh giá trước mổ, thay vì chỉ dựa vào khối phồng hoặc triệu chứng lâm sàng.

Quy trình nội soi và giải áp nang

Trong mô tả kỹ thuật, bác sĩ sử dụng gây mê toàn thân hoặc gây tê vùng, sau đó tạo các đường vào tiêu chuẩn để đưa camera và dụng cụ vào khớp gối [2]. Các bước chính gồm:

  • Thăm khám sụn chêm bằng dụng cụ chuyên dụng để xác định phạm vi đường rách.
  • Với rách nan hoa, phần tổn thương được chỉnh sửa về một bờ ngoại vi tương đối vững.
  • Với rách ngang còn ổn định, nguyên tắc là cắt lọc có giới hạn, bảo tồn phần sụn chêm phù hợp thay vì lấy bỏ rộng hơn cần thiết [2].
  • Bác sĩ có thể ấn từ bên ngoài để hỗ trợ đẩy chất trong nang vào khớp và nhận diện đường thông.
  • Nếu nang chưa tự giải áp, kim chọc qua da, kìm bấm hoặc dụng cụ shaver nhỏ có thể được sử dụng để mở rộng đường thông, đưa chất nang vào khớp và phá các ngăn trong nang [4].

Một mô tả kỹ thuật khác ghi nhận rằng khi nang tự giải áp trong lúc cắt một phần sụn chêm thì thường không cần xử lý thêm nang. Nếu nang không tự xẹp, có thể chọc hút qua da; tài liệu này nêu rằng không nhất thiết phải cắt nang hở [1]. Điều đó cho thấy “cắt bỏ nang” trong cách gọi thông thường có thể bao gồm thao tác giải áp nang qua nội soi, không phải lúc nào cũng là lấy toàn bộ nang bằng một đường mổ mở.

Vì sao cần bảo tồn sụn chêm?

Mục tiêu của phẫu thuật không chỉ là làm giảm nang mà còn xử lý phần rách gây thông với nang, đồng thời giữ lại mô sụn chêm lành nhiều nhất có thể. Tài liệu cho biết cắt một phần sụn chêm có kết quả chức năng tốt hơn cắt toàn bộ, nhưng kết quả lâu dài vẫn có thể kém tối ưu; thoái hóa khớp sau cắt sụn chêm thường gặp hơn so với sau sửa chữa sụn chêm [1].

Vì thế, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ về khả năng sửa sụn chêm nếu hình thái vết rách và mô còn lại cho phép. Tài liệu cũng lưu ý kết quả cắt sụn chêm ngoài có xu hướng kém hơn cắt sụn chêm trong, do sụn chêm ngoài đảm nhiệm phần lớn tải trọng ở khoang tương ứng [1].

Kết luận

Nội soi khớp gối cắt bỏ nang sụn chêm thường tập trung vào hai việc: xử lý rách sụn chêm gây nang và giải áp nang qua nội soi. MRI giúp đánh giá rõ hơn tổn thương, còn kỹ thuật phẫu thuật cần hướng đến việc cắt lọc vừa đủ và bảo tồn phần sụn chêm lành. Người bệnh nên được thăm khám chuyên khoa để xác định nang sụn chêm, nang khoeo hay một tổn thương khác trước khi lựa chọn phương pháp điều trị.

Tài liệu tham khảo

  • [1] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3064
  • [2] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2641
  • [3] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2641
  • [4] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2641
  • [5] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2641

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Related Post