Nội soi tái tạo rễ sụn chêm sau chấn thương khớp gối: Khi nào cần sửa chữa?

Nội soi tái tạo rễ sụn chêm thường được hiểu là phẫu thuật nội soi nhằm đưa phần rễ sụn chêm bị đứt về đúng vị trí bám và cố định để tạo điều kiện lành thương. Đây là tổn thương cần được đánh giá cẩn thận vì rễ sụn chêm có vai trò quan trọng trong việc duy trì chức năng phân bố lực của sụn chêm. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng phù hợp với phẫu thuật sửa chữa; quyết định còn phụ thuộc vào tuổi, nguyên nhân chấn thương, chất lượng sụn chêm và tình trạng sụn khớp.

Nội soi tái tạo rễ sụn chêm là gì?

Rách rễ sụn chêm là một dạng rách hướng tâm nằm tại hoặc trong phạm vi khoảng 1 cm tính từ vị trí sụn chêm bám vào xương. Tổn thương có thể xảy ra ở rễ trước hoặc rễ sau, trong đó rách rễ sau thường được quan tâm khi đánh giá đau phía sau khớp gối [3].

Các dạng tổn thương được mô tả gồm rách rễ bán phần còn ổn định, rách hướng tâm hoàn toàn gần chỗ bám xương, rách quai xô kèm bong hoàn toàn rễ, rách phức tạp làm mất bám rễ và gãy bong mảnh xương tại vị trí bám [1]. Vì vậy, cụm từ “tái tạo rễ” trong thực hành có thể bao gồm việc khâu và cố định rễ sụn chêm về nền xương, thay vì luôn đồng nghĩa với ghép một cấu trúc mới.

Khi nào cần cân nhắc sửa chữa rễ sụn chêm?

Chẩn đoán không nên dựa vào nội soi đơn độc. Nội soi khớp gối được xem là phương tiện hỗ trợ cho khai thác bệnh sử, khám lâm sàng và các phương tiện hình ảnh phù hợp, trong đó MRI có vai trò quan trọng [9]. Người bệnh có thể được nghĩ đến tổn thương rễ khi có đau phía sau gối, tràn dịch hoặc đau khi gấp gối [7].

Trên MRI, bác sĩ thường đánh giá các dấu hiệu như sụn chêm bị đẩy ra ngoài quá mức, “ghost meniscus sign” trên mặt phẳng đứng dọc, khuyết dạng đường dọc trên mặt phẳng trán, đồng thời phân biệt rách rễ thật sự với rách hướng tâm ở sừng sau. Tình trạng sụn khớp, phù xương hoặc gãy xương do suy giảm tại khoang khớp cùng bên cũng cần được xem xét [7].

Phẫu thuật sửa chữa thường được cân nhắc rõ hơn ở người trẻ có rách do chấn thương và sụn khớp còn tốt. Khi quyết định can thiệp, hai yêu cầu kỹ thuật quan trọng là đặt vị trí sửa chữa đúng giải phẫu trên xương chày và duy trì độ căng phù hợp của rễ sau khi cố định [7]. Đây là lý do kết quả không thể đánh giá chỉ dựa trên việc “đã khâu được rách” hay chưa.

Phẫu thuật nội soi được thực hiện theo nguyên tắc nào?

Với rách rễ sau không ổn định ở sụn chêm trong hoặc ngoài, một kỹ thuật được mô tả là làm mới nền xương phía sau rồi dùng dụng cụ định vị kiểu ACL để tạo đường hầm từ mặt trước bên của xương chày đến nền bám của rễ. Sau đó, dụng cụ đưa chỉ được sử dụng để luồn chỉ qua các phần sợi của rễ và cố định chúng [1].

Việc lựa chọn phương pháp cố định thay đổi theo vị trí tổn thương. Rách rễ trước có thể được xử lý bằng neo chỉ, còn rách rễ sau có thể cần chỉ khâu đơn giản, đường hầm xuyên xương chày và nút cố định [2]. Với một số rách rễ ngoài, đặc biệt khi còn phù hợp, làm sạch hoặc cạo tạo kích thích tại chỗ để mô lành tại vị trí có thể được cân nhắc; ngược lại, rễ sau mất vững thường là nhóm cần đánh giá sửa chữa tích cực hơn [1].

Trong trường hợp đồng thời có đứt dây chằng chéo trước gây mất vững và tổn thương sụn chêm còn khả năng sửa chữa, tái tạo dây chằng và sửa chữa sụn chêm thường được thực hiện trong cùng đợt khi có thể [6]. Tuy nhiên, tài liệu được cung cấp không đủ để kết luận về một phác đồ chung cho mọi mức độ thoái hóa, tổn thương sụn khớp hoặc các ca mổ lại.

Phục hồi sau sửa chữa rễ sụn chêm

Hạn chế sau mổ phụ thuộc vào loại và kích thước vết rách cũng như các thủ thuật phối hợp. Nguyên tắc phục hồi thường được mô tả là sử dụng nẹp gối có bản lề, cho phép vận động sớm trong khoảng 0–90 độ và chỉ chịu lực chạm nhẹ trong giai đoạn đầu; nếu có tái tạo dây chằng, người bệnh có thể phải tuân thủ thêm các hạn chế riêng của thủ thuật này [5]. Bác sĩ phẫu thuật và chuyên viên phục hồi chức năng sẽ điều chỉnh mức vận động, chịu lực và tăng cường cơ theo tình trạng cố định thực tế.

Điều người bệnh cần lưu ý

  • Không phải mọi đau gối sau chấn thương đều là rách rễ sụn chêm; cần khám và đối chiếu với MRI khi có chỉ định [8].
  • Rễ sụn chêm trong thường liên quan nhiều hơn đến quá trình thoái hóa ở người trung niên, trong khi rễ sau sụn chêm ngoài thường có thể xảy ra cấp tính cùng tổn thương dây chằng chéo trước [3][4].
  • Tuổi, chất lượng mô, tình trạng sụn khớp, kiểu rách và độ vững của khớp đều ảnh hưởng đến lựa chọn sửa chữa hay cắt lọc [6].
  • Không tự tập chịu lực hoặc gấp gối quá mức khi chưa có hướng dẫn sau mổ.

Kết luận: Nội soi tái tạo rễ sụn chêm chủ yếu hướng đến khôi phục vị trí bám và độ căng chức năng của rễ bị đứt. Chẩn đoán chính xác bằng khám lâm sàng kết hợp MRI, lựa chọn đúng người bệnh và cố định đúng giải phẫu là các yếu tố cốt lõi. Người bệnh nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ chấn thương chỉnh hình để xác định tổn thương thuộc loại nào và liệu sửa chữa nội soi có phù hợp hay không.

Tài liệu tham khảo

  • [1] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3072
  • [2] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3065
  • [3] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2631
  • [4] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2632
  • [5] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2639
  • [6] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3065
  • [7] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3072
  • [8] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 2631
  • [9] Campbell's Operative Orthopaedics, 15th Edition, 2026, trang 3051

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Related Post